Mã độc là gì? Phân loại và phòng tránh mã độc như thế nào
Thịnh Văn Hạnh
26/12/2025
3395 Lượt xem
Chia sẻ bài viết
Bạn nghe nhiều về cụm từ virus nhưng liệu bạn có biết virus là một loại mã độc? Vậy cụ thể thì mã độc là gì? Ngoài virus ra còn những loại mã độc nào? Và làm thế nào để phòng tránh các loại mã độc? Cùng tìm hiểu ngay trong bài viết dưới đây của BKNS nhé!
Tóm Tắt Bài Viết
Mã độc là gì?
Mã độc (Malicious Software – Malware) là các chương trình phần mềm được thiết kế nhằm âm thầm xâm nhập vào hệ thống máy tính với mục đích gây hại, đánh cắp dữ liệu hoặc làm gián đoạn hoạt động của hệ thống. Chúng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính bảo mật, tính toàn vẹn và tính sẵn sàng của thông tin trên máy tính của nạn nhân.
Dựa trên đặc điểm hoạt động, phương thức lây lan và mức độ phá hoại, mã độc được chia thành nhiều loại khác nhau như virus, worm, trojan, rootkit,…
Nhiều người thường nhầm lẫn giữa khái niệm mã độc và virus máy tính. Trên thực tế, virus máy tính chỉ là một nhánh nhỏ trong hệ sinh thái mã độc. Có thể hiểu virus máy tính là một dạng mã độc đặc biệt, điểm khác biệt cơ bản nằm ở khả năng tự sao chép và lây lan sang các hệ thống khác.
Cùng với sự phát triển của công nghệ, các loại mã độc ngày càng trở nên tinh vi và phức tạp hơn, thể hiện qua phương thức xâm nhập, kỹ thuật che giấu cũng như cách thức thực hiện các hành vi nguy hiểm. Ranh giới giữa các loại mã độc dần trở nên mờ nhạt, bởi nhiều phần mềm độc hại hiện nay được xây dựng dựa trên sự kết hợp của nhiều kỹ thuật và đặc tính khác nhau nhằm tối ưu hóa hiệu quả tấn công.

Tại sao nói mã độc có hại?
Không phải tự nhiên mà chúng được gọi là mã độc. Mã độc luôn được xem là mối nguy hại trên toàn cầu. Nhiều loại mã độc nguy hiểm đến mức chính những chuyên gia công nghệ cũng bị chúng làm cho đau đầu. Mã độc có nhiều loại. Mỗi loại có đặc tính và tác hại khác nhau. Tuy nhiên, có thể thấy những tác hại chung của các loại mã độc như sau:
Làm chậm tốc độ máy tính
Bất kể ứng dụng hay phần nào hoạt động trên máy tính đều phải nhờ đến năng lực xử lý của CPU. Khi mã độc xâm nhập vào hệ thống. Chúng sẽ chiếm dụng tài nguyên và có thể gây tê liệt hệ thống máy tính. Những thiết bị sau khi bị nhiễm mã độc sẽ hoạt động chậm đi nhiều so với tốc độ ban đầu.
Treo máy tính
Vô hiệu hóa máy tính là một tác hại về phần cứng mà mã độc gây ra cho thiết bị của bạn. Với khả năng vô hiệu hóa này. Người dùng hoàn toàn không thể hoạt động và sử dụng máy tính của mình. Và để có thể sử dụng trở lại bạn phải mất một khoản chi phí khá lớn.
Ảnh hưởng dữ liệu cá nhân
Đây cũng là tác hại của mã độc mà nhiều người không mong muốn nhất. Tùy vào từng loại mã độc cũng như mục đích, ý đồ của người tạo ra. Chúng sẽ có mức độ “phá hoại” khác nhau. Có thể chỉ là xâm nhập vào máy tính và đọc trộm dữ liệu. Nhưng cũng có trường hợp đánh cắp thông tin và danh tính người dùng với những mục đích phạm pháp. Hoặc tình trạng “ăn” dữ liệu. Có thể hiểu là tình trạng mã độc sẽ tấn công và xóa đi hoặc vô hiệu hóa các tệp tin, dữ liệu trong máy.
Ngày 22/12/2021, trên diễn đàn của hacker Raid Forums. Một tài khoản có tên đã seasalt123 chia sẻ về tập dữ liệu chứa thông tin người dùng được cho là của website Breport.vn. Website mới được BKAV thành lập hồi tháng 9 nhằm cho phép người dùng báo cáo lỗi về Bphone. Trong đó, tệp dữ liệu này bao gồm địa chỉ email, tên và số điện thoại của hơn 200 người dùng. Rõ ràng, tin tặc này đã dùng mã độc xâm nhập và đánh cắp dữ liệu cá nhân của người dùng. Không rõ là mục đích gì nhưng việc danh tính cá nhân bị tiết lộ gây ra nguy hiểm với nhiều người.
Tác động đến các ứng dụng
Khi mã độc xâm nhập vào máy, không thể không nói đến việc chúng có thể tác động đến các ứng dụng, phần mềm trên máy. Cụ thể, chúng có thể gây ra một số thay đổi trên giao diện khi thao tác. Mặt khác, một số virus tạo ra tình trạng các cửa số quảng cáo pop-up liên tục được bật lên làm người dùng khó chịu.
Top 13 các loại mã độc phổ biến
Như đã nói, nhiều người hay nhầm lẫn virus và mã độc là một. Nhưng về bản chất, virus là một loại mã độc. Trên thực tế, có rất nhiều loại mã độc gây hại cho máy tính của bạn. Dưới đây là phân biệt những loại mã độc thường thấy.
Macro virus
Macro virus là một loại virus đặc thù, chủ yếu tấn công các ứng dụng trong bộ Microsoft Office như Word, Excel và PowerPoint. Macro là một tính năng được tích hợp trong bộ công cụ văn phòng của Microsoft, cho phép người dùng tự động hóa và lưu lại các thao tác thường xuyên phải lặp lại.
Macro virus lợi dụng chính cơ chế này để chèn mã độc vào tài liệu, từ đó kích hoạt khi người dùng mở hoặc cho phép chạy macro. Tuy nhiên, với các biện pháp bảo mật ngày càng chặt chẽ và việc hạn chế sử dụng macro, virus macro hiện nay hầu như không còn phổ biến và gần như đã “tuyệt chủng”.

Boot virus
Boot virus (hay còn gọi là virus khởi động) là một loại virus máy tính lây nhiễm vào boot sector hoặc Master Boot Record (MBR) của ổ đĩa cứng. Đây là những khu vực quan trọng chứa thông tin cần thiết cho quá trình khởi động hệ thống và nạp các phân vùng.
Do được kích hoạt ngay từ giai đoạn khởi động, Boot virus thực thi trước khi hệ điều hành được tải vào bộ nhớ, vì vậy chúng hoạt động gần như độc lập với hệ điều hành. Tuy nhiên, loại virus này tương đối khó phát triển do không thể tận dụng các dịch vụ và chức năng do hệ điều hành cung cấp, đồng thời bị giới hạn nghiêm ngặt về kích thước, bởi mỗi sector chỉ có dung lượng khoảng 512 byte.
Trong bối cảnh hiện nay, Boot virus hầu như không còn xuất hiện phổ biến do tốc độ lây lan chậm và không còn phù hợp với môi trường Internet hiện đại.

Virus – Loại mã độc phổ biến nhất

Virus là loại độc phổ biến nhất. Virus có các hành động phá hoại như làm chương trình không hoạt động đúng như mong muốn, xóa dữ liệu, làm hỏng ổ cứng, lấy cắp các thông tin cá nhân nhạy cảm (các mã số thẻ tín dụng, tài khoản, tài liệu mật… Hơn nữa, virus có khả năng lây lan nhanh tới chóng mặt. Chính vì thế, nếu không phát hiện kịp thời, cực kì khó để dọn sạch chúng. Tuy nhiên, với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, Virus không còn “độc chiếm thị trường” mã độc như trước.
Worm – Sâu máy tính
Worm (sâu máy tính) là một loại mã độc có khả năng tự sao chép và lây lan với tốc độ rất nhanh thông qua nhiều con đường khác nhau như thư điện tử, thiết bị lưu trữ USB hoặc mạng nội bộ. Một ví dụ điển hình là mã độc WannaCry từng gây ra thiệt hại lên đến hàng tỷ đô la Mỹ trên phạm vi toàn cầu.
Khác với virus máy tính, Worm không cần phải gắn kèm vào các tệp tin hay chương trình khác mà có thể tự phát tán độc lập, khai thác trực tiếp các lỗ hổng bảo mật của hệ thống.

Thay thế cho sự phổ biến của Virus là Worm. Nó là loại mã độc phát triển và lây lan mạnh mẽ nhất hiện nay. Hình thức phát tán chủ yếu của Worm là qua email. Các email này thường có nội dung giật gân và hấp dẫn để thu hút lượt click của người dùng. Nhờ những email giả mạo đó mà worm có thể lây lan theo cấp số nhân. Trái với việc phải cần vật chủ như Virus, Worm có thể lây lan qua mạng dưới dạng một thực thể độc lập. Vì thế mà ngày nay, nhiều tin tặc thường ưu tiên loại mã độc này.
Trojan Horse – Ngựa thành Tơ roa
Trojan còn được gọi là “ngựa thành Tơ roa” là một loại mã độc được che giấu dưới hình thức các phần mềm thông thường. Khi người dùng cài đặt chương trình này, Trojan có thể âm thầm tạo ra các cửa hậu (backdoor), cho phép kẻ tấn công xâm nhập trái phép, đánh cắp thông tin hoặc điều khiển hệ thống từ xa.
Đặc điểm nổi bật của Trojan là không có khả năng tự lây lan mà phụ thuộc vào việc người dùng vô tình tải về và cài đặt.

Adware và Spyware
Adware là loại phần mềm độc hại chuyên hiển thị các nội dung quảng cáo không mong muốn, gây phiền toái cho người dùng, trong khi Spyware hoạt động âm thầm nhằm theo dõi hành vi sử dụng, ghi lại các thao tác bàn phím (keylogger) và thu thập trái phép thông tin cá nhân.
Cả hai loại mã độc này đều xâm phạm nghiêm trọng đến quyền riêng tư và tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn dữ liệu cá nhân.

BackDoor
Backdoor (cửa sau) là một dạng mã độc thuộc họ Trojan. Khi xâm nhập thành công vào máy tính nạn nhân, Backdoor sẽ tạo ra một cổng truy cập ẩn, cho phép kẻ tấn công điều khiển từ xa và thực hiện nhiều hành vi trái phép trên hệ thống bị nhiễm.
Thông qua việc cài đặt Backdoor trên nhiều máy tính khác nhau, kẻ tấn công có thể hình thành một mạng lưới các máy bị kiểm soát từ xa (Botnet), từ đó tiến hành các cuộc tấn công từ chối dịch vụ (DoS – Denial of Service) nhằm làm gián đoạn hoặc vô hiệu hóa hoạt động của hệ thống mục tiêu.

Đọc thêm:
Ransomware – mã độc tống tiền

Ransomware là một loại mã độc được dùng để ngăn chặn người dùng truy cập dữ liệu và sử dụng máy tính. Để lấy lại dữ liệu và quyền kiểm soát máy tính, nạn nhân cần chuyển tiền cho tin tặc. Vì thế mà nó được gọi là mã độc tống tiền. Ransomware thường xâm nhập qua email rác hoặc trang web lừa đảo. Trong vài trường hợp, Ransomware được cài đặt cùng với Trojan để có thể kiểm soát nhiều hơn trên thiết bị của nạn nhân.
Rootkit
Rootkit xuất hiện muộn hơn so với nhiều loại virus khác, tuy nhiên lại được xem là một trong những dạng mã độc nguy hiểm nhất hiện nay. Trên thực tế, rootkit không hẳn là virus theo nghĩa truyền thống mà là một phần mềm, hoặc tập hợp các phần mềm, được thiết kế nhằm can thiệp sâu vào hệ thống máy tính, từ nhân của hệ điều hành cho đến thậm chí là phần cứng, với mục tiêu chính là che giấu sự tồn tại của chính nó cũng như các mã độc khác.
Sự xuất hiện của rootkit khiến nhiều phần mềm độc hại trở nên gần như “vô hình” trước các công cụ giám sát thông thường, thậm chí có thể qua mặt cả các chương trình diệt virus. Nhờ được trang bị những kỹ thuật che giấu hiện đại, rootkit làm cho việc phát hiện và loại bỏ mã độc trở nên khó khăn hơn rất nhiều.
Rootkit được ghi nhận lần đầu trên các hệ thống Unix từ khá sớm, nhưng kể từ khi xuất hiện một cách chính thức trên hệ điều hành Windows vào năm 2005, loại mã độc này ngày càng trở nên phổ biến và đóng vai trò như một công cụ che giấu hiệu quả cho nhiều hình thức phần mềm độc hại khác.

Botnet

Bot là những chương trình mã độc được cài lên các máy tính nạn nhân. Các máy tính này sẽ nằm trong một mạng lưới được điều khiển bởi tin tặc gọi là mạng Botnet. Tương tự như backdoor. Botnet cũng cho phép kẻ tấn công truy cập và điều khiển hệ thống máy nạn nhân. Tất cả các máy bị nhiễm cùng một loại Botnet sẽ cùng nhận một chỉ thị lệnh. Từ một máy chủ điều khiển của kẻ tấn công thông qua các kênh như Internet Relay Chat (IRC) hoặc hệ thống mạng ngang hàng peer-to-peer (P2P).
Scripting virus
Scripting virus là loại virus được xây dựng bằng các ngôn ngữ kịch bản như VBScript, JavaScript hoặc Batch script. Do đặc điểm cú pháp đơn giản và dễ triển khai, các loại virus này tương đối dễ viết và dễ phát tán.
Scripting virus thường lây nhiễm sang các tệp script khác, đồng thời có khả năng chỉnh sửa nội dung các tệp HTML nhằm chèn quảng cáo, banner hoặc các mã độc bổ sung. Nhờ sự phát triển mạnh mẽ và phổ biến của Internet, loại virus này đã và đang lan truyền nhanh chóng, trở thành một mối đe dọa đáng chú ý đối với hệ thống máy tính.
Virus Hoax
Đây là các cảnh báo virus giả, thường được ngụy trang dưới dạng những thông điệp khẩn cấp yêu cầu người dùng nhanh chóng thực hiện các biện pháp nhằm “bảo vệ hệ thống”. Mục tiêu chính của những cảnh báo này là kích thích người nhận tiếp tục chuyển tiếp thông báo qua email cho nhiều người khác.
Bản thân các cảnh báo giả không trực tiếp gây hại cho hệ thống, tuy nhiên các email đi kèm có thể chứa mã độc hoặc bao gồm những hướng dẫn sai lệch như yêu cầu thiết lập lại hệ điều hành, xóa tệp tin quan trọng, từ đó gây ra thiệt hại nghiêm trọng.
Ngoài ra, hình thức cảnh báo giả này còn gây lãng phí thời gian và làm quá tải bộ phận hỗ trợ kỹ thuật do số lượng lớn người dùng gọi đến yêu cầu trợ giúp.

Biến thể
Biến thể là một cơ chế hoạt động phổ biến của virus máy tính, trong đó mã độc được chỉnh sửa hoặc thay đổi mã nguồn nhằm tạo ra các phiên bản khác nhau của chính nó. Việc tạo ra các biến thể giúp virus né tránh sự phát hiện của các phần mềm diệt virus hoặc điều chỉnh hành vi tấn công để đạt được mục tiêu mong muốn.
Cách lây nhiễm của mã độc
Mã độc có thể lây nhiễm bằng nhiều cách thức khác nhau tùy vào chủng loại. Phần lớn mã độc xâm nhập vào máy tính user do sự bất cẩn của người dùng. Khi tiến hành tải xuống phần mềm có các ứng dụng độc hại đi kèm với nó.
Một số có thể xâm nhập vào hệ thống bằng cách tận dụng các lỗ hổng bảo mật trong hệ điều hành. Và các chương trình phần mềm của người dùng. Các hệ điều hành phiên bản cũ, không bản quyền và không cập nhật, các phiên bản trình duyệt lỗi thời và các tiện ích hoặc plugin bổ sung …
Một nguồn phát tán mã độc phổ biến khác là thư điện tử (email). Hacker thường sử dụng kênh thư điện tử để gửi các fake news. Hoặc những thứ gây tò mò khiến người đọc phải mở tệp và tải xuống.
Cách phòng tránh mã độc
Làm thế nào để bảo vệ máy tính của bạn khỏi mã độc? Sau đây là một vài biện pháp BKNS đề xuất cho bạn để giảm thiểu khả năng bị mã độc xâm nhập:
- Đầu tiên, luôn cài đặt và cập nhật phần mềm chống virus trên tất cả các máy tính. Một vài phần mềm chống Virus phổ biến phải kể đến: Kaspersky, CyStack, Bitdefender, Avast, Norton, Bkav, … Các phần mềm này giúp chúng ta phòng tránh mã độc. Giúp chúng ta yên tâm hơn khi duyệt web hoặc download các phần mềm.
- Sử dụng các quyền tối thiểu trên các ứng dụng web để giới hạn quyền hạn. Ngăn chặn tin tặc có khả năng lây lan mã độc hại đến các hệ thống quan trọng.
- Thường xuyên cập nhật các bản vá được cung cấp từ hệ điều hành. Các bản vá cho các ứng dụng đang sử dụng và đặc biệt là cập nhật chương trình diệt virus. Nhằm tránh việc các loại mã độc lợi dụng các lỗ hổng để lây lan. Đồng thời cũng cập nhật được các mẫu mã độc mới. Giúp phần mềm diệt virus làm việc hiệu quả hơn.
- Đặc biệt, không mở mở các email và tệp đính kèm không rõ nguồn gốc. Nhất là các file thực thi (các file có đuôi .exe, .dll, …).
Kết luận
Trên đây là bài viết về mã độc là gì? Các loại mã độc và cách phòng tránh mã độc mà bạn nên biết. Để tránh khỏi những rủi ro không mong muốn. Hy vọng bài viết có ích với bạn.
Thường xuyên theo dõi và cập nhật thông tin trên bkns.vn để có đọc thêm nhiều bài viết thú vị. Đừng quên, BKNS là nhà cung cấp là nhà chuyên cung cấp các dịch vụ tên miền, đăng ký email doanh nghiệp, hosting giá rẻ, vps, ssl, thiết kế web… nhé!
Có thể bạn quan tâm:
































